Ngáy và ngưng thở khi ngủ

Ngủ ngáy là bệnh lý khá phổ biến trong cộng đồng. Gần một nửa số người lớn ngủ ngáy và hơn 25% là những người ngáy theo thói quen. Vấn đề ngáy và rối loạn giấc ngủ thường gặp hơn ở nam giới độ tuổi trung niên và những người thừa cân. Ngáy gây khó chịu cho người khác, nhưng nó cũng có thể là dấu hiệu của một tình trạng nghiêm trọng hơn, được gọi là ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn.

Ngáy có nguy hiểm không?

Giấc ngủ là nhu cầu sinh lý thiết yếu của con người, trung bình người bình thường cần 6-8 giờ ngủ trong một ngày hoặc ngủ chiếm khoảng 1/3 thời gian đời người.

Ngáy có thể được hiểu một cách đơn giản là tiếng thở ồn ào trong khi ngủ. Ngáy có thể gây hại nhiều hơn là chỉ làm phiền đối tác của bạn. Nó có thể dẫn đến chất lượng và số lượng giấc ngủ kém. Ngáy cũng có thể là dấu hiệu của một tình trạng nghiêm trọng hơn, được gọi là ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (tên tiếng Anh là Obstructive Sleep Apnea – gọi tắt là OSA). Khoảng 90 triệu người Mỹ bị ngáy và có đến một nửa trong số đó có thể bị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn.

Tình trạng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn được đặc trưng bởi nhiều lần ngừng thở trên 10 giây tại một thời điểm do hẹp hoặc xẹp đường thở trên. Điều này làm giảm lượng oxy trong máu và khiến tim phải làm việc nhiều hơn. OSA không được điều trị có thể góp phần gây ra cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim, béo phì, đột quỵ, tai nạn khi làm việc, vận hành máy móc…

Phân biệt giữa ngáy và ngưng thở khi ngủ?

Ngưng thở khi ngủ là một tình trạng nghiêm trọng, trong đó hơi thở của bạn bị tắc nghẽn, khiến bạn phải thức dậy để bắt đầu thở lại.

Một cách để phân biệt sự khác biệt giữa ngáy và OSA là tìm kiếm các triệu chứng ngưng thở khi ngủ: thức dậy vào giữa đêm để thở, buồn ngủ liên tục vào ban ngày và thường há hốc mồm khi ngủ.

Ngoài ra, để phân biệt giữa ngáy ngủ thông thường và ngưng thở khi ngủ là kiểu ngáy. Những người mắc chứng ngưng thở khi ngủ có xu hướng ngáy thường xuyên và to hơn, cộng với họ thường thở hổn hển trong giấc ngủ và đôi khi bạn có thể nghe thấy họ ngừng thở trong giây lát. Những người bị OSA có nhiều âm thanh bị ngưng trong tiếng ngáy của họ.

 

Các triệu chứng của ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là gì?

Các triệu chứng liên quan đến OSA có thể bao gồm:

  • Ngáy to.
  • Tạm dừng thở trong khi ngủ.
  • Thức dậy thở hổn hển hoặc nghẹt thở.
  • Thức dậy với cảm giác miệng khô hoặc đau họng.
  • Buồn ngủ hay mệt mỏi vào ban ngày.
  • Đi tiểu đêm thường xuyên.
  • Đau đầu buổi sáng.
  • Khó chịu, thay đổi tâm trạng, trầm cảm, khó tập trung.
  • Huyết áp cao, bệnh tim, đột quỵ hoặc các vấn đề về tim khác.

 

Nguyên nhân gây ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn?

Những âm thanh ồn ào của tiếng ngáy xảy ra khi có sự tắc nghẽn một phần đối với luồng không khí đi qua các lối đi ở phía sau miệng và mũi. Khu vực này là phần đóng mở của đường thở nơi lưỡi và họng trên gặp vòm hầu mềm và lưỡi gà.

Ngáy xảy ra khi các cấu trúc này va vào nhau và rung trong khi thở. Ngưng thở xảy ra khi sự tắc nghẽn của luồng không khí nghiêm trọng hơn, dẫn đến giảm lưu lượng khí, bị tổn thương hoặc bị chặn hoàn toàn trong khi cố gắng thở.

Ở trẻ em, ngáy có thể là một dấu hiệu của Amiđan quá phát và/hoặc VA vòm hầu quá phát.

Bác sĩ khám và tư vấn ngủ ngáy (nguồn: Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM).

Những yếu tố khác góp phần vào ngáy và ngưng thở khi ngủ?

Cơ ở lưỡi và cổ họng yếu. Khi cơ quá thư giãn, lưỡi rơi ngược vào đường thở hoặc cơ cổ họng kéo từ hai bên vào đường thở. Rượu hoặc thuốc gây buồn ngủ gây giãn cơ ở lưỡi và cổ họng gây tắc nghẽn đường thở khi ngủ.

Mô mềm ở cổ họng quá phát. Trẻ em có amiđan và VA vòm hầu lớn thường ngáy. Những người thừa cân có thể có mô mềm dư thừa ở cổ có thể dẫn đến hẹp đường thở. Những người có lưỡi rất lớn đặc biệt dễ bị ngáy và OSA.

Vòm miệng mềm dài và lưỡi gà dài (hoặc chỉ 1 trong 2). Một vòm miệng dài thu hẹp khe hở từ mũi vào cổ họng. Chiều dài quá mức của vòm miệng mềm hoặc lưỡi gà trở thành một van rung ồn ào trong quá trình thở thư giãn, gây ra âm thanh ngáy.

Tắc nghẽn ở mũi. Khi mũi bị nghẹt hoặc tắc nghẽn, đòi hỏi thêm nỗ lực để kéo không khí qua nó. Điều này tạo ra một khoảng trống phóng đại trong cổ họng, kéo các mô mềm của cổ họng lại với nhau. Đôi khi, ngáy chỉ xảy ra trong mùa dị ứng mũi hoặc bị nhiễm lạnh. Các dị tật của mũi hoặc vách ngăn mũi, chẳng hạn như vẹo vách ngăn cũng có thể gây ra ngáy và OSA.

 

Hậu quả của ngáy và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn nếu không điều trị?

  • Cao huyết áp.
  • Suy tim.
  • Rối loạn nhịp tim.
  • Đái tháo đường.
  • Béo phì.
  • Đột quỵ.
  • Lú lẫn, giảm trí nhớ, tâm lý không ổn định.
  • Tai nạn giao thông.
  • Tăng nhãn áp (Glaucoma).
  • Hội chứng hôn phối của người ngáy.
  • Suy giảm khả năng tình dục.
  • Kém tập trung, rối loạn tăng động giảm chú ý, chậm phát triển (ở trẻ em).

 

Thăm khám và xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán ngưng thở khi ngủ?

  • Đánh giá cân nặng và huyết áp.
  • Nội soi đường hô hấp trên bằng ống nội soi mềm nhằm xác định những vị trí tắc nghẽn, đánh giá khẩu cái mềm, lưỡi gà, amiđan, đáy lưỡi, vòm mũi họng, vách ngăn mũi, cuốn mũi.
  • Đo đa ký giấc ngủ là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và đánh giá mức độ ngưng thở khi ngủ.

Nội soi ống mềm xác định vị trí tắc nghẽn.

Đo đa ký giấc ngủ đánh giá mức độ ngưng thở.

 

Các biện pháp điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn?

Thay đổi lối sống

  • Do ngáy thường xuất hiện khi ngủ ở tư thế nằm ngửa, vì vậy nên tập nằm nghiêng một bên, có thể hỗ trợ tư thế này bằng một gối dài chèn ép ở lưng.
  • Tập thể dục thường xuyên và chế độ dinh dưỡng hợp lý để giảm cân.
  • Tránh dùng rượu bia ít nhất là 4 giờ trước khi ngủ.
  • Tránh dùng các thuốc an thần, thuốc ngủ. Điều cần lưu ý rượu, thuốc an thần và thuốc ngủ gây giãn các cơ họng, làm hẹp lòng đường thở gây ngáy và ngưng thở lúc ngủ.

Điều trị nội khoa

Đối với ngáy nhẹ do phù nề niêm mạc họng mũi:

  • Sử dụng các thuốc xịt corticoid tại chỗ.
  • Gia tăng kiểm sóat cân nặng có thể đạt được trong tương lai gần với các tiến bộ trong thay dổi chế độ sinh họat (thói quen), thuốc, dinh dưỡng và có thể liệu pháp gien.
  • Thở áp lực dương liên tục qua mặt nạ thở (continous positive airway pressure – CPAP) hoặc máy tạo áp lực dương 2 mức (bilevel positive airway pressure – BiPAP) cũng có thể mang lại kết quả rất tốt do giúp các mô mềm không bị sụp vào lòng ống hô hấp nhằm duy trì đường thở tốt. Phương pháp này được đánh giá thành công từ 90-95%, điểm bất tiện của phương pháp này là phải đeo mặt nạ suốt đêm và lệ thuộc vào sự vận hành của máy thở, sự vận hành máy này không đơn giản.

Phẫu thuật

  • Chỉ thực hiện khi các biện pháp nêu trên thất bại và ngưng thở khi ngủ có nguyên nhân từ các bất thường cấu trúc giải phẫu.
  • Cắt amidan, nạo VA khi có chỉ định.
  • Chỉnh hình họng màn hầu lưỡi gà.

PGS. TS. BS Trần Phan Chung Thủy

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn